Sinh Khương - Sinh Khương là gì? | Hương Rừng Food

Sinh Khương - Sinh Khương là gì? | Hương Rừng Food

Sinh Khương - Sinh Khương là gì? | Hương Rừng Food

Hỗ trợ trực tuyến
Hotline:
0909.652.109
Hương Rừng Food
Hương Rừng FoodHương Rừng Food
Điện thoại: 0909 652 109
vulam@huongrungfood.com
Sản phẩm nổi bật

Quả móc mật

Giá: Liên hệ

Hạt sa nhân

Giá: Liên hệ

Lá sương sâm

Giá: Liên hệ

Bột quế

Giá: Liên hệ

Lá móc mật

Giá: Liên hệ

Hạt mắc khén

Giá: Liên hệ

Hoa hồi - Đại hồi

Giá: Liên hệ

Thảo quả

Giá: Liên hệ

Hạt dổi

Giá: Liên hệ

Hạt dẻ Trùng Khánh

Giá: Liên hệ

Lá cà ri

Giá: Liên hệ

Măng Khô

Giá: Liên hệ
FANPAGE
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang online: 60
  • Truy cập ngày: 1034
  • Truy cập tháng: 3884
  • Tổng truy cập: 148051
Sinh Khương - Sinh Khương là gì?

Trang 61-64 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập - GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng 

SINH KHƯƠNG

Tên khoa học: Rhizoma zingiberis Offcenalis Recens

Sinh khương là thân rẽ tươi của cây Gừng thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục. Cây Gừng được trồng khắp nơi ở nước ta dùng để làm thuốc và làm gia vị thức ăn. Tùy theo dạng bào chế mà có tên gọi khác nhau như sinh khương, bào khương, than khương, ổi khương,….

 

Tính vị quy kinhVị cay hơi ôn. Quy kinh phế tỳ vị.

Theo các sách cổSách Danh y biệt lục: “vị cay hơi ôn”.

Sách Y học khởi nguyên: ‘tính ôn, vị ngọt cay”. Sách Bản thảo hội ngôn: “nhập tỳ, phế, trường, vị kinh”. Sách lôi công bào chế dược tính giải: “nhược phê, tâm, tỳ, vị kinh”. Sách Bản thảo kinh giải: “nhập đởm, can, phế kinh”.

Thành phần chủ yếu: Zingiberol, zingiberece, phellandrene, camphene,linalool, methylheptenone, nonyl aldehyde, gingerol, gigediol, methylgingediol, gengediacetale, methylgingediacetate,…

Tác dụng dược lý

Theo y học cổ truyền: Phát hãn giải biểu, ô ttrung chỉ ẩu, ôn phế chỉ khái, giải độc. Chủ trị các chứng ngoại cảm phong hàn biểu chứng, vị hàn ẩu thổ, phong hàn khái thấu đàm nhiều, giải độc cua cá, độc bán hạ và nam tinh.

Trích đoạn Y văn cổ: Sách Danh y biệt lục: “trừ phong tà hàn nhiệt, chứng thương hàn đầu đau, nghẹt mũi, khái nghịch thượng khí, chỉ ẩu thổ, khứ đàm hạ khí”. Sách Dược tính loại minh: “sinh khương khứ thấp, là do tác dụng ôn trung ích tỳ vị, khí tỳ vị được ấm và kiện vận thì thấp khí tự mất. Sinh khương tiêu đàm là do thuốc vị cay có tác dụng khai khoát xung tán”. Sách Bản thảo kinh sơ: “cái hay của sinh khương tính khí không khác can Khương nhưng tác dụng tiêu đàm, chỉ ẩu, xuất hãn, tán phong, khư hàn chỉ tả, sơ can, đạo trệ, thì tốt hơn”. Sách Dược phẩm hóa nghĩa: “sinh khương vị cay xuyên, thiện về khoát đàm lợi khiếu, chỉ hàn ẩu, trừ uế khí, thông thần minh. Thuốc trợ Thông bạch tán biểu tà như phong hàn thấp nhiệt chứng; hợp với hắc Táo, Sài, Cam, trị chứng hàn nhiệt vãng lai và chứng biểu hư phát nhiệt; trợ Đăng tâm thông khiếu lợi phế khí, ninh khái thấu; cùng dùng với thuốc bổ khai vị bổ tỳ, chỉ tiết tả”.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  • Gừng tố có tác dụng tăng tiết dịch vị và tăng nhu động ruột, trợ giúp tiêu hóa tốt. Trong gừng tố có thành phần có tác dụng cầm nôn.

  • Thuốc có tác dụng kháng viêm tiêu sung và giảm đau.

  • Thuốc có tác dụng hung phấn trung khu vận mạch, trung khu hô hấp và tim, tăng huyết áp, tăng tuần hoàn ngoại vi, trợ giúp ra mồ hôi.

  • Thuốc cso tác dụng ức chế trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn, trùng roi.

Ứng dụng lâm sàng:

  • Giải cảm phong hàn: Thường dùng kết hợp với Quế chi, Tô diệp, phòng phong để tăng tác dụng làm ra mồ hôi. Sau khi mắc mưa lạnh để phòng cảm lạnh chỉ cần sắc gừng với đường đen uống nóng.

Bài thuốc trị cảm hàn đau đầu nghẹt mũi: Sinh khương 12g, Tô diệp 8g, Phòng phong 12g, sắc uống.

  • Chữa nôn, buồn nôn do tỳ vị hàn (có thể do cảm hoặc rối loạn tiêu hóa). Người xưa cho gừng là vị thuốc chủ yếu chữa nôn (khương vi trị ẩu yếu dược). Thường dùng nước gừng đặc 3-10 giọt, uống cầm nôn hoặc kết hợp với Bán hạ như bài Tiểu bán hạ thang gồm Sinh khương, Bán hạ, mỗi thứ 8-10g sắc uống. Trường hợp nôn do tỳ vị hư hàn có thể dùng kết hợp trong các bài thuốc ôn tỳ như tứ quân tử thang, Lý trung thang.

  • Dùng gừng để tăng khẩu vịtrợ tiêu hóa, gia thêm trong các bài thuốc bổ làm giảm bớt tính nê trệ của thuốc bổ, dùng gừng kết hợp với đại táo, cam thảo kiện vị hòa trung như bài Tiểu kiến trung thang gồm: Bạch thược 12g, Quế chi 6g, Chích thảo 4g, Đại táo 4 quả, Sinh khương 1,2g, đường phèn 20-40g. Sắc thuốc xong cho đường phèn vào uống.

  • Dùng gừng chữa ho do ngoại cảm phế hàn hoặc ho lâu ngày như viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản cấp, mạn tính dùng gừng độc vị sắc với nước đường hoặc mật ong, hoặc dùng phối hợ với các vị thuốc tán hàn chỉ khái khác.

  • Dùng gừng giải độc Nam tinh và Bán hạ. Trường hợp nhiễm độc nam tinh, bán hạ có cảm gaics nóng bỏng sưng đau ở họng lưỡi, uống nước gừng cho thêm 30-60g giấm uống  hoặc  ngậm súc.

Liều dùng và chú ý: 4-12g hoặc 2-5 lát, dùng độc vị lượng tăng tùy tình hình bệnh lý.

Gừng dùng tươi có tác dụng tán hàn giải cảm, dùng chín có tác dụng tán hàn giải cảm, dùng chín có tác dụng hòa tỳ vị nên lúc dùng gừng trong thuốc thang bổ để hòa tỳ vị (tăng tiêu hóa) tốt nhất là dùng gừng nước chín. Dùng gừng lùi trị đau bụng do hàn. Vỏ gừng cay mát có tác dụng lợi thủy, thường được dùng trong các bài thuốc tiêu phù. Gừng là vị thuốc có tác dụng ôn tán nên thường được phối hợp với cam thảo và đại táo, dùng nhiều trong các bài thuốc có nhiều vị thuốc đắng lạnh và nê trệ để điều hòa tính chất các vị thuốc đó. Gừng đốt cháy (thán khương) có tác dụng cầm máu. Dùng gừng thận trọng đối với chứng âm hư nội nhiệt.