Cách sử dụng thuốc trong Y học Cổ truyền

Cách sử dụng thuốc trong Y học Cổ truyền

Cách sử dụng thuốc trong Y học Cổ truyền

Hỗ trợ trực tuyến
Hotline:
0909.652.109
Hương Rừng Food
Hương Rừng FoodHương Rừng Food
Điện thoại: 0909 652 109
vulam@huongrungfood.com
Sản phẩm nổi bật

Quả móc mật

Giá: Liên hệ

Hạt sa nhân

Giá: Liên hệ

Lá sương sâm

Giá: Liên hệ

Bột quế

Giá: Liên hệ

Lá móc mật

Giá: Liên hệ

Hạt mắc khén

Giá: Liên hệ

Hoa hồi - Đại hồi

Giá: Liên hệ

Thảo quả

Giá: Liên hệ

Hạt dổi

Giá: Liên hệ

Hạt dẻ Trùng Khánh

Giá: Liên hệ

Lá cà ri

Giá: Liên hệ

Măng Khô

Giá: Liên hệ
FANPAGE
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang online: 7
  • Truy cập ngày: 447
  • Truy cập tháng: 2492
  • Tổng truy cập: 140391
Cách sử dụng thuốc trong Y học cổ truyền | Phần 1: Cách phối ngũ

(Trang 21-23 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập - GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng )

Muốn sử dụng thuốc theo Y học cổ truyền, ngoài việc phải nắm vững tính năng của từng loại thuốc, còn phải cần biết những nguyên tắc sử dụng thuốc. Cách sử dụng thuốc trong Y học cổ truyền bao gồm cách phối ngũ (phối hợp nhiều vị thuốc thành bài thuốc) vấn đề kiêng kỵ  trong dùng thuốc, liều lượng dùng và cách dùng.

 

A CÁCH PHỐI NGŨ

Trong Y học cổ truyền có sử dụng thuốc 1 vị (gọi là đơn phương) như bài Độc sâm thang (gồm 1 vị nhân sâm) nhưng rất ít, mà phần lớn là dùng phối hợp trong bài thuốc từ 2 vị trở lên (gọi là phức phương) để đạt được hiệu quả điều trị cao. Phối ngũ tức là căn cứ vào tình hình bệnh lý của bệnh tật mà chọn 2 vị thuốc trở lên phối hợp thành một bài thuốc hiệu quả.

Theo sách cổ "Thần nông bản thảo kinh" (thế kỷ thứ 2 sau công nguyên), Bản thảo cương mục (1953), có 7 tình huống (thất tình) có thể xảy ra lúc phổi hợp thuốc cần được lưu ý:

  1.  Đơn hành: chỉ dùng 1 vị cũng có tác dụng trị bệnh, thường dùng với bệnh tình đơn giản như bài Thanh Kim Tán dùng độc vị Hoàng Kỳ chữa chứng phế nhiệt nhẹ ho ra máu, bài Độc sâm thang, dùng độc vị Nhân Sâm để bổ khí cố thoát, hoặc dùng độc vị hạt bí ngô ăn trị chứng sán (teeniasis)
  2. Tương tu: Dùng 2 vị thuốc trở lên có tính năng, tác dụng giống nhau nâng cao hiệu lực của thuốc. Ví dụ: Thạch cao phối hợp Tri mẫu sẽ tăng tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa sinh tân, Đại hoàng phối hợp Mang tiêu tăng tác dụng thanh nhiệt tả hạ.
  3. Tương sứ: 2 vị thuốc có tính năng tác dụng giống nhau, vị phó dược có tính năng tăng tác dụng như Hoàng kỳ bổ khí, lợi thủy cùng dùng với Phục linh  kiện tỳ, lợi thủy, Phục linh làm tăng tác dụng của Hoàng kỳ. Hoàng cầm là chủ dược dùng cùng với Đại hoàng, Đại hoàng có thể làm tăng tác dụng thanh nhiệt tả hỏa của Hoàng Câm.
  4. Tương hủy: Là dùng một vị thuốc có độc hoặc có tác dụng phụ thì dùng thêm vị thuốc khác có tác dụng giản độc và tác dụng phụ của vị thuốc kia. Ví dụ: Bán hạ có độc, dùng Sinh khương để giảm độc Bán hạ tức Bán hạ hủy Sinh Khương.
  5. Tương Sát:  Tức là một vị thuốc có thể làm giảm độc hoặc làm mất tác dụng phụ của vị thuốc kia. Ví dụ: Sinh Khương có thể làm giảm hoặc mất độc tính của Bán hạ, tức Sinh Khương sát Bán Hạ.
  6. Tương ố: Tức hai vị thuốc cùng dùng thì vị này có thể làm giảm hoặc mất tác dụng của vị kia. Ví dụ: Người xưa cho rằng, Nhân dâm ố La bạc tử tức là La bạc tử làm giảm tác dụng bộ khí của Nhân sâm.
  7. Tương phản: Tức hại vị thuốc cùng dùng thì sinh ra độc hoặc tác dụng phụ, như Cam toại dùng chung với Cam thảo sinh ra độc ( xem phần thuốc trong bài kiêng kỵ tronh dùng thuốc: 18 phần 19 hay húy)

​Theo 7 tình huống có thể xảy ra khi phối hợp thuốc trên đây thì trong phối ngũ chú ý dùng thuốc tương tu và tương sứ có tác dụng tăng hiệu lực điều trị. Trường hợp dùng một loại thuốc có độc và cần có vị thuốc giảm độc thì dùng 2 loại thuốc tương húy hoặc tương sát. Hai loại thuốc tương ố thì không nên dùng chung, còn 2 loại thuốc tương phản thì tuyệt đối cấm dùng.

Phối ngũ là những kiến thức cơ bản để người thầy thuốc có thể cho ra một bài thuốc hợp lý và có hiệu quả chữa bệnh.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại về tác dụng của phối ngũ dùng trong thuốc Y học cổ truyền:

Những kết quả nghiên cứu của Trung Quốc cho thấy việc phối ngũ sử dụng thuốc Đông y là hợp lý và khoa học. Nhiều thí nghiệm đã chứng minh là dùng thuốc có phối ngũ tác dụng tốt hơn dùng độc vị. Nhân trần, Chi tử, Đại hoàng cùng dùng có tác dụng lợi mật tốt hơn hẳn dùng từng vị riêng biệt. Bài Ngũ Linh Tán (Bạch linh, Bạch truật, Trư linh, Trạch quả, Quế chi) Có tác dụng lợi tiểu hơn bất kỳ một vị thuốc nào trong bài thuốc dùn riêng lẻ. Glucozit Thảo dược trong vị Thược dược và hất FM100 trong Cam thảo đều có tác dụng an thần, trấn kinh, giảm đau, chống viêm và làm thư giãn cơ trơn. Nếu 2 vị phối hợp cùng lúc thì tác dụng trên được đẩy mạnh hơn, đặc biệt là tác dụng tiêu viêm và giảm đau tăng lên rõ rệt. Lục thần hoàn có tác dụng kháng viêm, ức chế tính thẩm thấu của mao mạch khá rõ, mạnh hơn  hydrocotison, trong bài, vị Ngưu hoàng, Thiền tồ, và Xạ hương đều có tác dụng kháng viêm, giải độc. Nếu 3 vị cùng phối hợp tác dụng càng mạnh hơn, nếu đem Xạ hương, Thiền tồ, Ngưu Hoàng cùng phối hợp với tỷ lệ 2:3:3 thì có tác dụng mạnh nhất (Chu Kim Hoàng và cộng sự (Dược lý học Trung dược, nhà xuất bản Khoa học - Kỹ Thuật Thượng Hải 1986) 

Các công trình nghiên cứu cũng chứng minh dùng thuốc theo phương pháp phối ngũ khiến cho một số thuốc có độc hoặc có tác dụng phụ cũng giảm hoặc mất đi độc tính và tác dụng phụ. Ví dụ: chiết xuất Saponin trong Sài hồ cùng dùng với chất FM100 của vị Cam Thảo có thể làm giảm độc Saponin Sài hồ, làm dịu tác dụng kích thích ruột của nó. Liều chí tử (LD50) của bài thuốc sắc Tứ nghịch thang thuốc (thục Phụ tử, chích Thảo và Cam khương) ít hươn 4,1 lần so với nước sắc độc vị Phụ tử đối với chuột nhắt, chủ yếu do cam thảo làm giảm độc Phụ tử (Mai Toàn Hỷ... Nghiên cứu phối ngũ của Cam thảo, Tập nghiên cứu thành phần Trung Dược 1988, 2:35) Dung dich Bạch phàn ngâm Bán hạ có thể làm hủy chất độc trong Bán hạ, làm giảm tính kích thích của Bán Hạ (Phùng Ngọc Lân Thăm dò, Bào chế Trung Dược nhà xuất bản KHKT Sơn Đông, 1984). Có loại thuốc dùng có tác dụng đối kháng, thuốc này làm mất tác dụng vốn có của thuốc kia. Ví dụ thuốc Ngô thù dù có tác dụng hạ áp nhưng nếu dùng chung với Cam thảo thì sẽ không có tác dụng hạ áp (Vương Dục Sinh, Dược lý và ứng dụng Trung Dược, Nhà xuất bản Vệ Sinh Nhân Dân, 1983) Hoặc lúc nghiên cứu 18 phản của thuốc, cùng chứng minh rằng Cam thảo dùng với Nghiên hoa làm tăng độc tính của Nguyên hoa ( Vương Dục Sinh, Dược lý và ứng dụng Trung Dược, Nhà xuất bản Vệ Sinh Nhân Dân, 1983).