Mạng kinh tử - Mạn kinh tử có tác dụng gì? | Hương Rừng

Mạng kinh tử - Mạn kinh tử có tác dụng gì? | Hương Rừng

Mạng kinh tử - Mạn kinh tử có tác dụng gì? | Hương Rừng

Hỗ trợ trực tuyến
Hotline:
0909.652.109
Hương Rừng Food
Hương Rừng FoodHương Rừng Food
Điện thoại: 0909 652 109
vulam@huongrungfood.com
Sản phẩm nổi bật

Quả móc mật

Giá: Liên hệ

Hạt sa nhân

Giá: Liên hệ

Lá sương sâm

Giá: Liên hệ

Bột quế

Giá: Liên hệ

Lá móc mật

Giá: Liên hệ

Hạt mắc khén

Giá: Liên hệ

Hoa hồi - Đại hồi

Giá: Liên hệ

Thảo quả

Giá: Liên hệ

Hạt dổi

Giá: Liên hệ

Hạt dẻ Trùng Khánh

Giá: Liên hệ

Lá cà ri

Giá: Liên hệ

Măng Khô

Giá: Liên hệ
FANPAGE
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang online: 9
  • Truy cập ngày: 446
  • Truy cập tháng: 2200
  • Tổng truy cập: 99985
Mạn kinh tử

(Trang 82-83trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập - GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng)

Tên khoa học: Fructus Viticis

Mạn kinh tử cũng gọi là Màn kinh tử, mạn kinh thực, quan âm, kinh tử là quả chín của cây Mạn kinh dùng làm thuốc. Được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Mạn kinh tử mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Tính vị quy kinh: Vị đắng, cay, lương, Quy kinh can, vị, bàng quang.

  • Theo các sách cổ: Sách Bản kinh: "vị đắng, hơi hàn". Sách Trân châu nang: "đắng, cay". Sách Thanh dịch bản thảo: "Thái dương kinh dược". Sách Bản thảo kinh sơ: "nhập túc thái dương minh". Sách Lôi công bào chế dược tính giải: "nhập can kinh".

Thành phần chủ yếu: Camphene, a-pinene, vitexicapin, casticin, vitamin A

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền: Sơ tán phong nhiệt, thanh lợi đầu, mắt. Chủ trị chứng ngoại cảm phong nhiệt đầu hôn, đầu thống, răng lợi sưng đau, chứng phong nhiệt mắt đỏ sưng, nhiều ghèn.
    - Trích đoạn Y văn cổ: Sách Bản kinh: "Chủ cân cốt gian hàn nhiệt, thấp tý co quắp, mình mục kiện xĩ". Sách Bản thảo cương mục: "mạn kinh khí thanh vị cay, thể nhẹ mà phù, đi lên mà tán nên chủ chứng đầu mặt phong hư". Sách Dược phẩm hóa nghĩa: "mạn kinh tử năng sơ phong, lương huyết lợi khiếu, phàm chứng thái dương đầu thống và thiên đầu phong, não minh, mắt lệ, mắt mờ, điều do huyết nhiệt phong dâm gây nên. Cho nên phải lương huyết dùng khí nhẹ của thuốc chủ thăng. Dùng bài: Thần hiệu Hoàng kỳ thang sơ tiêu chướng ế khiếu mắt hồi phục ánh sáng, là thuốc trị chứng kinh can (vi can kinh thắng dược)".
    Sách Bản thảo tân biên: "Mạn kinh tử, trợ bổ trung dược để trị chứng đau đầu rất hiệu nghiệm. Do thuốc nhẹ, lực mỏng dễ đi lên nhưng không dùng độc vị được".
  2. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại
    - Thước có tác dụng an thần, giảm đau và hạ nhiệt nhẹ.
    - Nước chưng cất lá chế thành dịch chích trên súc vật thực nghiệm có tác dụng tăng tuần hoàn ngoại vi và nội tạng.

Ứng dụng lâm sàng

  1. Trị mũi dị ứng: Dùng 20%dung dịch lá Mạn kinh nhỏ mũi, mỗi ngày 3-5 lần, lần cho 3-5 giọt, liên tục trong 2 ngày, theo dõi 35 ca, có kết quả trước mắt tốt (báo vệ sinh Quảng Tây 1976; 1:32)
  2. Chữa đau đầu do huyết áp cao:
    - Mạn kinh tử thang: Mạn kinh tử 12g, Bạc hà 8g (cho sau), Bạch chỉ 8g, Câu đằng 12-16g, sắc nước uống.
  3. Chữa đau nửa đầu (thiên đầu thống): 
    - Mạn kinh tử 10g, Cam cúc hoa 8g, Xuyên khung 4g, Tế tân 3g, Cam thảo 4g, Bạch chỉ 3g, đổ nước 600ml sắc đặc còn 1/3 chia 3 lần uống trong ngày.
  4. Chữa đau mắt đỏ do phong nhiệt (viêm màng tiếp hợp cấp)
    - Mạn kinh tử 16g, Cúc hoa 12g, Chi tử 12g, Hoàng cầm 12g, Mộc tặc 12g, Thiều thối 4g, sắc nước uống. Hoặc bài:
    - Mạn kinh tử 12g, Cúc hoa 12g, Thảo quyết minh 12g, Đương quy 12g, Đào nhân 8g, sắc nước uống. Trường hợp hư chứng (khí hư là chính) dùng thêm bài Bổ trung ích khí.

Liều dùng và chú ý: 4-6g.

Dùng thận trọng đối với bệnh nhân đau đầu, đau mắt đỏ do huyết hư. Có tác  giả dùng mạn kinh tử và mỡ gấu lượng bằng nhau trộn với giấm thanh bôi vào tóc làm cho tóc đen và dài (Theo Thánh Huệ Phương)